log2

Nguyên lý cấu tạo bơm bùn

bom_cat_soiBơm Bùn nói chung là một kiểu bơm ly tâm được chế tạo có khả năng bơm được hỗn hợp hạt vật liệu rắn và nước và được lắp chi tiết chịu mài mòn.  Bơm Bùn nói chung dùng để bơm hỗn hợp nước và  hạt chất rắn có kích thước từ 0 –  ≥50mm.

Bơm bùn lắp khô: 

 -   Bơm Bùn trục ngang đều được lắp khô, bộ phận dẫn động và vòng bi được tránh không bị dính bùn và “đầu ướt” kín. Bơm đứng tự do, không bị dính dung dịch xung quanh.

-   Bơm bùn trục đứng có một thùng cấp liệu hở với vỏ bơm gắn trực tiếp dưới đáy thùng. Trục bánh công tác kiểu cần, vỏ bọc vòng bi và bộ phận dẫn động được gắn trên đỉnh thùng, làm quay bánh công tác bên trong vỏ bơm. Bùn được dẫn từ thùng vào “đầu ướt”, quay quanh trục và được đẩy ngang ra qua cổng xả. Kiểu này không có đệm kín trục hay vòng bi chìm.                          

                                   Bơm trục đứng                                                              Bơm chìm trục đứng

                                                                                    Bơm trục ngang

                                               

 

 

                 

Cấu tạo 

     1- mặt bích nối với mô t:  2 - trục dẫn động;    3-vòng bi;    4 – vỏ ốp trục;      5- Gioăng phản hồi động chắn nước:     6- tấm ốp sau tiếp xúc với bùn thay định kỳ;    7- tấm xoắn ốc tiếp xúc với bùn thay định kỳ;        8 – bánh công tác;       9 – tấm trước tiếp xúc với bùn thay định kỳ ;      10 –  vỏ trong tiếp xúc với bùn thay định kỳ;        11 – vỏ ngoài bằng thép;  12 – hộp chứa gioăng phản hồi động chắn nước  ;                13 – phớt chắn nước;       14 - chân đế bơm;       15 – giá đỡ bơm;    16 - bu-lông điều chỉnh:

 

 1.  Bánh công tác

Khi  bánh công tác quay là để truyền động năng đến dung dịch bùn và đẩy nó lên.   Một phần động năng này được chuyển thành năng lượng áp suất trước khi ra khỏi bánh công tác.  Ngoài sự biến đổi thuỷ lực đáng kể, điều này, trong Bơm Bùn, còn đạt được nhờ vào mật độ chất rắn trong dung dịch bùn để chuyển năng lượng nhờ “lực kéo thuỷ lực”. Lực kéo này được sử dụng trong một số máy khai thác ướt bằng thuỷ lực (máy phân loại, máy lọc, máy tách, v.v...).

 -  Cánh của bánh công tác: Cánh là phần chính của bánh công tác. Những phần còn lại chỉ để giữ, bảo vệ và giữ cân bằng cho cánh trong khi vận hành.              

 -    Bánh công tác của Bơm Bùn có cánh ngoài và cánh trong.

Cánh ngoài: Khi bơm hoặc đẩy ra sẽ thấy cánh. Những cánh này ngắn và được đặt ở bên ngoài nắp bảo vệ bánh công tác. Những cánh này hỗ trợ cho bộ phận đệm kín và hiệu suất máy bơm.

Cánh trong:  Cũng được coi là cánh chính, dùng để bơm bùn.

-     Thông thường, trong Bơm Bùn chúng ta sử dụng 02 loại cánh chính là cánh ráp hoặc cánh trơn.

+   Cánh ráp hiệu quả hơn trong việc thay đổi năng lượng nên nó được sử dụng khi hiệu suất được chú trọng hàng đầu, mặc dù với bánh công tác rộng thì ít thuận lợi hơn.

+    Hạn chế của cánh ráp là phức tạp khi chế tạo và cũng bị mòn nhiều hơn khi bơm dung dịch bùn có hạt thô”! Vì vậy,  khi bơm các hạt thô thì sử dụng cánh trơn

-     Độ dày của cánh gây ra những hạn chế cho tuổi thọ của bộ phận chống mài mòn và cần cho cỡ hạt yêu cầu. Thông thường, trên thực tế số cánh tối đa là 05, được sử dụng cho bánh công tác bằng kim loại với đường kính trên 300 mm và bánh công tác bọc cao su với đường kính trên 500 mm.

 -      Đường kính, cánh và bánh công tác có liên quan mật thiết với nhau (cánh quá rộng gây ra quá nhiều ma sát) và hiệu suất bắt đầu giảm và có thể gây ra tắc.

-     Kiểu bánh công tác của Bơm Bùn không liên quan đến hình dạng kín hay hở. Việc sử dụng bánh công tác được quyết định bởi phương diện sản xuất và loại ứng dụng.

-     Bánh công tác kín: được sử dụng đối với dung dịch bùn có hạt thô cho hiệu suất cao nhất và tuổi thọ chống mài mòn cao nhất -  chú ý kiểm tra cỡ hạt tối đa. Bánh công tác kín hiệu quả hơn bánh công tác hở vì nó hạn chế sự rò rỉ “vòng quay ngắn” trên các cánh. Hiệu suất ít bị ảnh hưởng bởi sự mài mòn.

Hạn chế:  Bánh công tác kín với thiết kế hạn chế dễ bị tắc khi các hạt thô bị cọ sát. Hiện tượng này phổ biến với những bánh công tác nhỏ.

 -    Bánh công tác nửa hở được sử dụng để khắc phục những hạn chế của bánh công tác kín. Bánh công tác nửa hở phụ thuộc vào đường kính của bánh công tác, kích cỡ và kết cấu của chất rắn, không khí bị đẩy vào, độ nhày cao, v.v...

Hạn chế: Hiệu suất thấp hơn (không đáng kể) so bánh công tác kín.

-      Bánh công tác lưu lượng xoáy: được sử dụng đối với chất rắn to, mềm, chất liệu sợi hoặc để vận hành “nhẹ nhàng”, hoặc bơm các hạt dễ vỡ, độ nhày cao và khí bị đẩy vào. Bánh công tác lưu lượng xoáy được sử dụng khi có sự tắc bánh công tác hoặc khi bơm các hạt dễ vỡ. Bánh công tác bị đẩy lùi trong vỏ bơm. Chỉ thể tích lưu lượng giới hạn tiếp xúc với bánh công tác làm cho sự vận hành nhẹ nhàng dung dịch bùn và dung lượng chất rắn lớn.

 Hạn chế:

 Hiệu suất thấp hơn (đáng kể) bánh công tác kín và bánh công tác nửa hở.

Đường kính bánh công tác:

Đường kính bánh công tác ảnh hưởng đến lượng đẩy ra tại mọi tốc độ. Đường kính bánh công tác càng lớn thì lượng đẩy ra càng nhiều.

Chú ý: Đường kính bánh công tác lớn mà chạy chậm thì lượng đẩy ra cũng bằng đường kính bánh công tác nhỏ mà chạy nhanh 

Chiều rộng bánh công tácChiều rộng bánh công tác ảnh hưởng đến lưu lượng của bơm tại mọi tốc độ. Chiều rộng bánh công tác lớn mà chạy chậm thì lưu lượng cũng bằng chiều rộng bánh công tác nhỏ mà chạy nhanh, nhưng điều quan trọng nhất là cánh và nắp bảo vệ bánh công ảnh hưởng đến tốc độ.  So với bơm nước và dựa vào “tiết diện chống mài mòn” thì bánh công tác của Bơm Bùn không chỉ to hơn mà còn rộng hơn rất nhiều,

 

2. Vỏ Bơm

 Một chức năng của vỏ bơm là làm tăng tốc độ lưu lượng từ chu vi của bánh công tác, chuyển sang lưu lượng mong đợi và đẩy ra cổng xả. Một chức quan trọng năng khác là làm giảm vận tốc lưu lượng và chuyển đổi động năng thành năng lượng áp suất.

Hình dạng của vỏ bơm: Vỏ bơm và bánh công tác được lắp với nhau để tạo ra lưu lượng tốt nhất (và thay đổi năng lượng) có thể, xoắn ốc, nửa xoắn ốc, đồng tâm.

Kiểu xoắn ốc tạo ra sự thay đổi năng lượng hiệu quả hơn kiểu đồng tâm và có điểm lưu lượng/cột áp lý tưởng tạo ra tải trọng xuyên tâm trên bánh công tác rất thấp.

  Vỏ bơm cố định:  Đối với hầu hết các máy bơm kim loại rắn thì vỏ hình xoắn ốc thường là một khối cố định. Kiểu này có hiệu quả cao nhất trong chế tạo và không đòi hỏi phải tách vỏ ra làm 2 nửa.

Một số máy bơm bọc lót cao su cũng sử dụng vỏ hình xoắn ốc cố định, đặc biệt với kích thước nhỏ. Sử dụng vỏ hình xoắn ốc thiết thực và kinh tế hơn nhiều.

 Vỏ bơm hai nửa: Tách đôi vỏ bơm làm tăng chi phí cho bơm và chỉ sử dụng khi cần thiết. Loại này thay các bộ phận dễ dàng, đặc biệt đối với các bơm bọc cao su lớn.

 

3,  Bộ phận chống mài mòn  

Với Bơm Bùn, bánh công tác và mặt trong của vỏ bơm luôn chị áp lực xoáy của bùn vì vậy phải được bảo vệ chống mài mòn.

a)   Bánh công tác khó tránh khỏi ăn mòn do va đập (cao và thấp) chủ yếu trong hốc, trên mặt nắp bảo vệ, khi lưu lượng đạt 90oC. Trên mép chính của cánh . Ma sát và va đập với góc độ thấp xẩy ra dọc theo các cánh giữa nắp bảo vệ bánh công tác                     

b)   Lớp lót bên khó tránh khỏi mài mòn do ma sát, Nghiền và mài.

c)    Vỏ hình xoắn ốc khó tránh khỏi va đập. Ăn mòn do ma sát và va đập với góc độ thấp xảy ra ở những phần còn lại của vỏ.

 Nhìn chung, kim loại chịu mài mòn tốt hơn cao su và là sự lựa chọn tốt nhất cho vật liệu thô.

 Những kim loại được sử dụng chủ yếu là:

+   Sắt Crom (cao) chịu mài mòn với độ cứng là 650 BHN, được sử dụng trong môi trường có độ pH khoảng 2,5. MetaChrome là chất liệu chuẩn cho hầu hết các loại bơm.

+    Thép Mangan với độ cứng tới 350 BHN, chủ yếu được sử dụng trong các ứng dụng nạo vét.

 

  Đối với các loại cao su nhân tạo , xem bảng ở trang sau.

 Chất liệu

Tính chất vật lý

Tính chất hoá học

Tính chất nhiệt

 

Tốc độ tối đa của đầu bánh công tác (m/s)

Chịu mài mòn

Nước nóng, axit loãng

Axit mạnh và oxy hoá

Dầu, hydrocacbon

Nhiệt độ cao nhất (0oC)

 

Thường            Hiếm

Nhóm Elasta

(Cao su tự nhiên)

27

Rất tốt

Tuyệt vời

Khá

Kém

(-50) đến 65

100

MeroPren 452

(Loại Chloroprene)

27

Tốt

Tuyệt vời

Khá

Tốt

90

120

MeroLen 016

(Loại EPDM)

30

Tốt

Tuyệt vời

Tốt

Kém

100

130

MeroTyle

(Loại Butila)

30

Khá

Tuyệt vời

Tốt

Kém

100

130

MeroThane

Pôliurêtan

30

Rất tốt

Khá

Kém

Tốt

45-50

65

 

d)  Gioăng  

Bơm trục ngang: Chỗ rò rỉ bùn (cổng hút bị ngập nước), chỗ rò rỉ khí (độ nâng cổng hút), độ lệch trục và chiều cổng hút.

Bơm trục đứng: Được thiết kế không có gioăng         

Bơm chìm: Chỗ rò rỉ bùn, bộ nối điện

  • Gioăng trục

 Nơi mà trục đi đến vỏ bơm, việc sử dụng gioăng trục ngăn sự rò rỉ (khí và bùn). Gioăng trục có chức năng quan trọng nhất đối với bất kỳ loại Bơm Bùn nào, Lựa chọn gioăng đúng là yếu tố cần thiết đối với bất kỳ ứng dụng bơm nào.

Chức năng cơ bản của gioăng trục đơn giản là để làm khít các lỗ hổng ở vỏ bơm nơi mà trục đi qua, vì vậy hạn chế (không thể chấm dứt) được sự rò rỉ.

  • Gioăng vòng tết mềm
  • Gioăng cơ học
  • Gioăng động lực

Gioăng có bộ phận xịt rửa:

Đối với hầu hết Bơm Bùn chất lỏng xịt rửa là nước sạch. Để gioăng có tuổi thọ cao nhất thì nước phải có chất lượng tốt, không có hạt rắn.

Gioăng vòng tết mềm thường là sự lựa chọn đầu tiên ở những chỗ mà sự làm loãng dung dịch bùn có thể chấp nhận được. Có 02 lựa chọn:

Rửa bằng dòng đầy khi sự làm loãng bùn không có vấn đề gì.

Chất lượng rửa đặc trưng của dòng đầy:

10-90 lít/phút (phụ thuộc vào kích thước của bơm)

Rửa bằng dòng thấp khi sự làm loãng bùn có vấn đề nhỏ.

Chất lượng rửa của dòng thấp:

0,5-10 lít/phút (phụ thuộc vào kích thước của bơm)

Lưu ý:   Chọn vòng tết mềm dòng đầy (khi thích hợp) thường kéo dài tối đa “tuổi thọ gioăng” cho Bơm Bùn.

Gioăng cơ học cũng có hoặc không có bộ phận xịt rửa. Nếu bộ phận xịt rửa được sử dụng, (hình dạng miếng đệm xịt rửa tiết kiệm và dễ bảo dưỡng) luôn sử dụng một vòng tết mềm, để có thể chấp chỗ rò rỉ bên ngoài. (hình dạng miếng đệm xịt rửa tiết kiệm và dễ bảo dưỡng).

-   Gioăng không có bộ phận xịt rửa

Để tăng độ tin cậy của gioăng không có bộ phận xịt rửa, người ta sử dụng gioăng ly tâm (phản hồi động).

 +   Gioăng ly tâm: Phản hồi động được sử dụng cùng với vòng ép tết được mô tả như gioăng ly tâm. Gioăng ly tâm đã được sử dụng trong nhiều năm, nhưng chỉ đến những năm gần đây thì công nghệ về chất liệu và thiết kế Bơm Bùn mới được đẩy mạnh. Ngày nay, gioăng được cung cấp kết hợp với phản hồi động. Gioăng ly tâm chỉ có hiệu quả khi máy bơm chạy. Với bơm tĩnh, gioăng tĩnh được làm từ vòng tết, nhưng trong vòng ép tết tĩnh sử dụng ít vòng tết hơn.

Khi phản hồi động hoạt động, một bánh công tác phụ được lắp phía sau bánh công tác chính, có buồng gioăng riêng, gần vỏ bơm chính.

Hoạt động đồng thời với cánh xả nắp bảo vệ bánh công tác, phản hồi động ngăn không cho chất lỏng rò rỉ ra ngoài vòng ép tết đảm bảo gioăng khô.

Gioăng này khô vì toàn bộ áp lực do cánh xả và phản hồi động sinh ra lớn hơn áp lực do cánh chính của bánh công tác và cổng hút sinh ra.

Vì vậy áp lực của vòng ép tế, với một gioăng ly tâm, bị giảm xuống bằng áp lực của môi trường.

+    Hạn chế của gioăng ly tâm: Tất cả gioăng ly tâm bị hạn chế ở lượng hút, chúng có thể tác dụng tương thích đến sự vận hành đầu bơm. Lúc đầu, hạn chế có thể chấp nhận được của đầu hút được xác định dựa vào tỷ lệ của đường kính bánh phản hồi động và đường kính cánh chính của bánh công tác. Khi thiết kế được thay đổi, hầu hết phản hồi động sẽ đệm kín làm cho chiều cao cổng hút không vượt quá 10% chiều cao cổng xả khi đang hoạt động đối với bánh công tác chuẩn. 

+   Gioăng động lực: Không yêu cầu tia nước rửa,  làm loãng bùn không dựa vào nước rửa. Bảo dưỡng vòng tết được giảm. Miếng đệm không bị rò rỉ trong quá trình hoạt động.

+   Gioăng cơ học: Ở những chỗ gioăng động lực phản hồi động không thể sử dụng được thì phải dùng đến gioăng cơ học không có tia nước rửa. Có độ chính xác cao, gioăng được bôi trơn và làm mát bằng nước chạy với dung sai mà các hạt bùn không thể chui vào bề mặt đệm kín và phá hỏng chúng. Gioăng cơ học rất nhạy cảm đối với độ lệch trục và độ rung. Trục cứng và việc lắp ráp vòng bi quyết định sự vận hành có thành công hay không. Nếu gioăng cơ học không được ngập trong chất lỏng thì ma sát giữa các bề mặt gioăng sẽ bị nóng lên, sẽ sớm làm hỏng bề mặt. Điều này cũng có thể xảy ra nếu cánh xả của bánh công tác quá hiệu quả. Tuy nhiên, điều hạn chế lớn nhất là giá cả rất cao. Việc nghiên cứu để chế tạo gioăng sao cho hiệu quả và có độ tin cậy nhất vẫn đang được tiến hành và ngày nay, loại gioăng này cũng là sự lựa chọn phù hợp cho Bơm Bùn.

+   Gioăng cơ học - Sự lựa chọn duy nhất cho bơm chìm:Không có sự lựa chọn nào khác ngoài gioăng cơ học khi đệm kín vòng bi của động cơ điện của bơm chìm.

Bộ phận đệm kín bao gồm 02 gioăng cơ học độc lập, chạy bằng dầu. Tại mặt bánh công tác, bề mặt đệm kín là Vonfam Cacbua với Vonfam Cacbua và trên mặt động cơ là Cacbon  với chất liệu làm đồ gốm.

Lưu ý! ; Trên các bơm này có một đĩa quay phụ được gắn vào trục sau bánh công tác để bảo vệ gioăng. Đây không phải là Phản hồi động như được mô tả ở trên về máy bơm trục ngang. Nó có thêm một vành siết hoặc đĩa bảo vệ cơ học để ngăn các hạt từ dung dịch bùn làm hỏng gioăng cơ học.

+   Bơm Bùn không có gioăng – Bơm trục đứng: 02 lý do để phát triển Bơm Bùn trục đứng là:

  • Để sử dụng động cơ khô, tránh bị ngập nước
  • Để loại bỏ các vấn đề về đệm kín.

 

e) Trục và vòng bi  

 -    Bơm Bùn trục ngang: Bánh công tác được đỡ trên trục có gắn vòng bi chống ma sát. Vòng bi thường được bôi trơn bằng dầu hoặc mỡ. bánh công tác được đặt ở đầu trục (kiểu nhô ra). Để truyền động đến trục người ta thường dùng dây đai và puly hoặc là một khớp nối đàn hồi (có hoặc không có hộp bánh răng).

 -   Trục máy bơm và hệ số SFF

Vì bánh công tác Bơm Bùn chịu tải cao hơn bơm nước sạch nên trục phải được thiết kế vững trắc. Hệ số đàn hồi (SFF) liên hệ đường kính trục tại gioăng trục D(mm), đến chiều dài nhô ra (từ vòng bi tại đầu ướt đến trung tâm bánh công tác) L(mm) và được xác định là L3/D4. Đây là một tiêu chuẩn để đánh giá độ nhạy cảm đối với độ lệch (điều này quan trọng đối với gioăng trục và tuổi thọ vòng bi).  

Ước tính hệ số SFF của Bơm Bùn là 0,2 - 0,75. 

Ước tính hệ số SFF chất lỏng sạch là 1 - 5.

 -  Những vấn đề cơ bản về vòng bi:

Tuổi thọ của vòng bi được tính bằng cách sử dụng phương pháp tiêu chuẩn ISO 281. Tuổi thọ được tính là tuổi thọ L10. Đây là số giờ trong đó 10% vòng bi vận hành dưới điều kiện có thể bị hỏng. Tuổi thọ trung bình của vòng bi bằng khoảng 04 lần tuổi thọ L10. Hầu hết Bơm Bùn phải có tuổi thọ L10 tối thiểu là 40.000 giờ (tức là tuổi thọ trung bình là 160.000 giờ).Tất nhiên, vòng bi sẽ bị hỏng rất nhanh nếu bị bùn dính vào.

 

g) Bộ phận dẫn động; Bơm Bùn có 02 kiểu dẫn động:

 -  Dẫn động gián tiếp: được sử dụng cho bơm trục ngang và trục đứng, bao gồm động cơ (có cơ cấu dẫn động đa dạng) và hệ dẫn động (dây đai chữ V hoặc hộp bánh răng).  Khái niệm này tạo sự thoải mái để chọn động cơ giá thấp (4 cực) và bộ phận dẫn động theo tiêu chuẩn công nghiệp địa phương. Tính năng đàn hồi tốt cũng làm thay đổi hoạt động của bơm bằng một sự thay đổi tốc độ đơn giản.

-   Dẫn động trực tiếp: luôn được sử dụng trong bơm chìm và ở nơi mà ứng dụng đòi hỏi bơm trục ngang và bơm trục đứng.

  Khái niệm dẫn động này là một phần thiết yếu của bơm bùn, nó ảnh hưởng tới việc cung cấp các bộ phận và sự thay đổi hoạt động của bơm.

 

1. Dẫn động gián tiếp

-   Lựa chọn động cơ: Hệ thống truyền động phổ biến nhất là động cơ kiểu lồng sóc, loại động cơ này tiết kiệm, đáng tin cậy và được sản xuất trên toàn thế giới. Trên thực tế việc định cỡ động cơ máy bơm phải có hệ số an toàn thấp nhất, trên công suất được tính toán, là 15%. Điều này cho phép có thể thay đổi trong việc tính toán công suất và sự thay đổi công suất sau này.  

Với dẫn động bằng dây đai chữ V thì người ta thường chọn động cơ 04 cực, vì điều này cung cấp cơ cấu dẫn động tiết kiệm nhất.

-    Cơ cấu dẫn động: Một vài cơ cấu dẫn động có sẵn cho động cơ điện dẫn động bằng dây đai, tức là động cơ nằm trên, động cơ nằm trên ngược chiều và động cơ nằm bên. Hầu hết các cơ cấu dẫn động là động cơ nằm bên và động cơ nằm trên. Nhìn chung, động cơ nằm trên tiết kiệm nhất và nâng động cơ lên khỏi sàn để tránh bị đổ. Nếu máy bơm là kiểu “kéo sau” và được lắp trên “chân đế trượt” thì việc bảo dưỡng có thể đơn giản hơn nhiều.

-    Hạn chế của động cơ nằm trên: Kích thước của động cơ bị giới hạn bởi kích thước của thân bơm. Nếu không sử dụng động cơ nằm trên thì sử dụng động cơ nằm bên (có thanh trượt để làm căng dây đai).

-    Hệ dẫn động bằng dây đai chữ V (dẫn động tốc độ cố định): Đường kính bánh công tác của Bơm Bùn (kim loại rắn hoặc chất đàn hồi) không thể dễ dàng thay đổi vì vậy để thay đổi hoạt động của bơm thì cần thay đổi tốc độ. Điều này thường được làm với dẫn động bằng dây đai chữ V. Bằng việc thay đổi 1 hoặc cả 2 puly, máy bơm có thể “quay tốt” để đạt được công suất tốt đa ngay cả khi các ứng dụng thay đổi.

Để dây đai được làm căng đúng thì dẫn động bằng dây đai chữ V hiện đại phải có độ tin cậy tuyệt đối với tuổi thọ mong muốn là 40.000 giờ và tổn hao công suất dưới 2%. Tỷ lệ tốc độ tối đa của dẫn động bằng dây đai chữ V là 5:1 với động cơ 1500 vòng/phút và 4:1 với động cơ 1800 vòng/phút.

 -    Hệ dẫn động bằng dây đai chữ V - hạn chế: Khi tốc độ bơm quá thấp (bơm nạo vét) hoặc khi công suất quá cao, dây đai chữ V không phù hợp. Trường hợp này phải sử dụng hộp bánh răng hoặc dây đai bánh răng. Dẫn động bằng dây đai bánh răng ngày càng phổ biến, tạo sự linh hoạt cho dẫn động bằng dây đai chữ V với độ căng thấp hơn.

-     Dẫn động tốc độ thay đổi: Với những ứng dụng cụ thể (điều kiện lưu lượng thay đổi, đường ống dài, v.v...) nên sử dụng bộ phận dẫn động tốc độ thay đổi. Với dẫn động tốc độ thay đổi, lưu lượng của bơm ly tâm có thể được kiểm soát chặt chẽ bằng cách gắn tốc độ với máy đo lưu lượng. Những thay đổi trong sự cô đặc hoặc cỡ hạt có ảnh hưởng rất nhỏ đến mật độ lưu lượng. Khi đường ống bắt đầu bị tắc thì phải tăng tốc độ lên để giữ cho vận tốc lưu lượng không bị thay đổi và ngăn chặn hiện tượng tắc. Bộ phận dẫn động điện tử hiện đại, đặc biệt là đẫn động thay đổi thường xuyên, có nhiều ưu điểm (có thể được sử dụng với động cơ chuẩn) và được sử dụng rộng rãi.

 -    Dẫn động tốc độ thay đổi - Hạn chế: Chỉ có giá cả là đáng quan tâm, điều này hạn chế việc dụng rộng rãi.

-    Một vài điều về dẫn động bằng “động cơ đốt cháy”

 Ở những vùng xa xôi hẻo lánh hoặc những công trường xây dựng ở giữa cánh đồng thì các thiết bị bơm dùng tạm thời hoặc khẩn cấp thường chạy bằng động cơ điêzen công nghiệp. Một máy bơm được chạy bằng động cơ điêzen được cung cấp để vận hành trên các thân bơm bằng com-po-sit, tạo ra cách vận hành khác với tốc độ của máy.   

  

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: